A. PHẦN TR̀NH
BÀY
“Cây có cội, nước có nguồn”. Sức sống của Hội Thánh hôm nay là
thành quả của hơn 400 năm hạt giống Tin Mừng được gieo trồng.
Cũng là thành quả của hơn 400 năm cây đức tin được vun xới và
phát triển, hơn bốn trăm năm Hội Thánh chia sẻ muôn nỗi thăng
trầm của quê hương, và cũng là hơn 400 năm chan ḥa hồng ân
Thiên Chúa. Trong Thư Chung 1980, HĐGMVN viết: “Nh́n về quá khứ,
chúng tôi cảm mến sâu sắc bàn tay nhân lành của Thiên Chúa, đă
êm ái và mạnh mẽ hướng dẫn Hội Thánh Người trên đất nước Việt
Nam của chúng ta. Chúng tôi biết ơn công lao của vô vàn tín hữu
đă làm sáng tỏ đức tin và ḷng yêu nước của ḿnh... “ (số 17).
1. Hạt giống Tin Mừng được gieo văi (Thế kỷ XVI)
Những tiến bộ của ngành hàng hải giúp Christophe Colomb đến được
Mỹ Châu năm 1492, cũng đă nối dài những bước chân truyền giáo
của các thừa sai vượt đại dương, đến quê hương Việt Nam. Năm
1533, theo Khâm Định Việt Sử (33,6b), chỉ dụ cấm đạo của vua Lê
Trang Tôn đă nói đến một thừa sai tây phương tên I-Nê-Khu, men
theo đường biển vào truyền đạo tại làng Ninh Cường, và làng Trà
Lũ. Tiếp theo là dấu chân rao giảng của các linh mục ḍng Đa
Minh: Năm 1550, cha Gaspar De Santa Cruz đến giảng đạo tại Hà
Tiên; Năm 1588, hai cha Luis de Fonseca và Grégoire de la Motte
bị vua Chiêm Thành hăm hại tại Quảng Nam. Trước đó, năm 1583, do
lời mời của nhà Mạc, các linh mục ḍng Phaxicô đă đến Bắc Hà.
Cha Bartôlômêô Ruiz đă giảng đạo bằng tranh ảnh tôn giáo. Sự
kiện nổi bật cuối thế kỷ XVI (1591) là việc trở lại của công
chúa Mai Hoa (Maria Flora) tại Thanh Hóa, do linh mục Ordonez.
Hiện nay tại An Trường (Thanh Hóa) vẫn c̣n một nền nhà thờ và
một giếng Da-tô do công chúa cho đào.
Người tín hữu đầu tiên. Dựa vào gia phả nhà họ Đỗ, cụ Đỗ Hưng
Viễn, người làng Bồng Trung tỉnh Thanh Hóa, được coi là tín hữu
Việt Nam tiên khởi. Cụ đi sứ và được rửa tội tại Macao thời vua
Lê Anh Tôn (1573), nhưng con cái không ai theo đạo.
2. Và những người đầu tiên
Việc các cha ḍng Tên, dưới sự điều hành của cha Buzomi đến Cửa
Hàn, Quảng Nam, năm 1615, đă khai mở một giai đoạn mới trong
lịch sử truyền giáo. Thừa hưởng kinh nghiệm “hội nhập văn hóa”
của cha Matteo Ricci tại Trung Hoa và Valignanô tại Nhật Bản,
các vị quan tâm đặc biệt đến việc học ngôn ngữ, phong tục dân
Việt, và giảng đạo bằng tiếng Việt. Thế là chỉ trong vài chục
năm, Tin Mừng đă đi vào văn hóa Việt Nam.
Các tín hữu Việt Nam tiên khởi đă đóng góp vai tṛ rất lớn lao
trong công tŕnh ấy. Ngoài việc giúp các thừa sai học tiếng, các
vị c̣n phiên dịch kinh sách và giáo lư ra chữ Nôm để phổ biến.
Sử sách c̣n nhắc đến cụ nghè Giuse, sư cụ Manuel giúp cha Pina ở
Quảng Nam, đến cụ Gioan Kim giúp cha Đắc Lộ ở An Vực (Thanh Hóa)
và những vần thơ văn của công chúa Catarina: “lịch sử đạo Thiên
Chúa từ tạo thiên lập địa đến khi Chúa xuống thế... ”. “... Thơ
văn đó được các người có đạo truyền tụng nhau, họ ngâm lên lúc
làm việc ở nhà, ở ngoài đồng hay lúc đi đường”. Phần lớn những
bài văn dâng hoa cổ và cung giọng ngắm “15 sự thương khó” hiện
nay, cũng đă xuất phát từ giai đoạn này.
Nếu người ta quan tâm nhiều hơn đến việc h́nh thành chữ quốc ngữ
trong giai đoạn này, được ổn định năm 1651, khi cha Đắc Lộ cho
xuất bản tại Rôma tự điển Việt-Bồ-La, sách văn phạm An Nam và
cuốn song ngữ “Phép giảng tám ngày”; th́ cũng đừng quên những
tác phẩm tôn giáo bằng chữ Nôm; thừa sai Majorica với 48 tác
phẩm về suy niệm và hạnh các Thánh; một giáo hữu Quảng Ngăi là
Gioan Thanh Minh với 15 thi phẩm về tiểu sử các Thánh; và nhất
là linh mục Lu-y-Đoan với tập thơ lục bát “Sấm truyền ca” (1670)
viết lại truyện Cựu Ước, với nhiều điển tích và thành ngữ Á
Đông.
Cộng tác với thừa sai, c̣n có một đội ngũ đông đảo các tín hữu
Việt Nam, hiến toàn thân cho việc tông đồ, đó là các thầy giảng.
Các thầy tuyên khấn độc thân, để tài sản chung và vâng lời thầy
bề trên (lớp đầu tại Kẻ Chợ, Hà Nội năm 1630); (tại Cửa Hàn
Quảng Nam năm 1643). Các thầy giảng hỗ trợ các thừa sai trong
việc giảng dạy giáo lư, điều hành và duy tŕ các cộng đoàn Dân
Chúa, khi các ngài bị trục xuất hoặc vắng mặt.
Những chứng nhân đức tin đầu tiên:
– Tại Đàng Ngoài: Năm 1630, anh Phanxicô, dù bị chủ là một hoàng
thân cấm đoán, vẫn tiếp tục chôn xác người chết, nên bị giam,
tra tấn và bị giết.
– Tại Đàng Trong: Năm 1644, Thầy Anrê Phú Yên bị bắt tại nhà cha
Đắc Lộ. Dù bị quan quân đe dọa, thầy không bỏ đạo, nên bị chém
đầu, trên môi c̣n mấp máy Danh Đức Giêsu.
Nói về tín hữu Việt Nam thời này, cha Đắc Lộ viết: “... Điều làm
tôi cảm động hơn hết là thấy ở xứ đó, bao nhiêu người Công Giáo
là bấy nhiêu Thiên Thần, và ơn Phép Rửa đă ban cho họ một tinh
thần mà chúng ta gặp thấy ở các Tông Đồ và các Thánh Tử Đạo tiên
khởi...”.
(Trích “Lược Sử Hội Thánh Công Giáo Tại Việt Nam” trong Giáo Lư
Hội Thánh Công Giáo của HĐGMVN, trang 105-107)
B. PHẦN HỎI-ĐÁP
1- H. Tin
Mừng đến Việt
Nam từ
bao giờ?
T. Năm
1533, theo Khâm Định Việt Sử, chỉ dụ cấm đạo của vua Lê Trang
Tôn đă nói đến một thừa sai Tây phương tên là I-nê-khu đă theo
đường biển vào truyền đạo tại hai làng Ninh Cường và Trà Lũ
thuộc tỉnh
Nam Định
ngày nay. Từ đó, hạt giống Tin Mừng đă lớn lên và trổ sinh nhiều
hoa trái.
2- H. Để
rao giảng Tin Mừng, các vị thừa sai đầu tiên đă làm ǵ?
T. Các vị
thừa sai đă ḥa ḿnh vào xă hội và ḥa nhập vào văn hóa gia đ́nh
Việt
Nam, đặc
biệt sáng tạo và hoàn thành chữ Quốc ngữ với sự cộng tác của một
số người Việt trong tu hội Thầy giảng.
3- H. Các
tín hữu đầu tiên đă cộng tác thế nào với các vị thừa sai trong
công cuộc rao giảng Tin Mừng ?
T. Các tín
hữu đầu tiên đă giúp các vị thừa sai học ngôn ngữ và làm quen
với phong tục Việt
Nam, để các ngài có thể
giảng đạo bằng tiếng Việt
Nam. Các
thầy giảng c̣n giúp các ngài trong việc dạy giáo lư, điều hành,
và duy tŕ các cộng đoàn Dân Chúa.
4- H. Ai là
những chứng nhân đức tin đầu tiên tại Việt
Nam?
T. Tại
Đàng Ngoài (miền Bắc) có anh Phanxicô, làm việc bác ái mà bị tra
tấn và bị giết năm 1630. Tại Đàng Trong (miền
Nam), có
thầy Anrê Phú Yên là học tṛ của cha Đắc Lộ, bị chém đầu ngày
26-7-1644.
5- H. Các
tín hữu đầu tiên được đồng bào lương yêu thương gọi là ǵ?
T. Các tín
hữu đầu tiên yêu thương nhau đến nỗi đồng bào lương gọi các ngài
là những người theo
đạo Yêu
nhau.
C. PHẦN GỢI Ư TRAO ĐỔI
1. Khi nh́n lại chặng đường lịch sử
này, bạn tâm đắc điều ǵ? Tại sao?
2. Trước những nỗ lực rao giảng Tin
Mừng của các vị thừa sai đầu tiên, bạn cảm thấy thế nào?
3. Bạn
có thấy cộng đoàn tín hữu đầu tiên thật tuyệt vời không? Theo
bạn, tuyệt vời ở điểm nào?